KẾT LUẬN
Của đồng chí Phùng Đình Thực – Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại Hội nghị Tổng kết công tác Dịch vụ năm 2011 – triển khai Kế hoạch thực hiện năm 2012Ngày 30/3/2012 tại Thành phố Vũng Tàu, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác Dịch vụ năm 2011 và triển khai kế hoạch thực hiện năm 2012. Tham dự Hội nghị có: Đại diện các Bộ/Ban, Ngành Trung ương: Đồng chí Hồ Thị Kim Thoa – Thứ trưởng Bộ Công Thương, và các đồng chí đại diện Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Lãnh đạo Vụ Thị trường trong nước – Bộ Công Thương, Vụ TDKT Dầu khí – Tổng cục Năng lượng, Vụ Kinh tế Công nghiệp – Bộ Kế Hoạch & Đầu tư.
Về phía Tập đoàn Dầu khí Quốc gia ViệtNam: Các đồng chí trong Hội đồng Thành viên, Ban Tổng Giám đốc, Ban chấp hành Đảng bộ Tập đoàn và lãnh đạo các Ban/Văn phòng Đảng uỷ Tập đoàn; Đại diện Công đoàn ngành Dầu khí Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội cựu chiến binh Tập đoàn; đại diện Đảng uỷ, Công đoàn Công ty mẹ và lãnh đạo các Ban/Văn phòng Tập đoàn; các đồng chí nguyên Lãnh đạo Tập đoàn; Và gần 350 đại biểu là Bí thư, Chủ tịch HĐTV/HĐQT, Tổng giám đốc/giám đốc, kế toán trưởng và trưởng các Ban chuyên môn về công tác dịch vụ của các đơn vị thành viên Tập đoàn tham dự Hội nghị. Hội nghị đã nghe “Báo cáo kết quả thực hiện công tác dịch vụ năm 2011, kế hoạch triển khai thực hiện năm 2012” và “Báo cáo thực hiện chủ trương người ViệtNamƯu tiên dùng hàng ViệtNam”.
Hội nghị cũng đã nghe đại diện của 05 đơn vị thành viên tham luận tại Hội nghị (VSP, PVEP, PTSC, PVD và Hoàng Long – Hoàn Vũ JOC) với các nội dung phong phú tập trung vào việc đưa ra các giải pháp để khắc phục những khó khăn, tồn tại nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển dịch vụ đã đề ra.
Đồng chí Hồ Thị Kim Thoa – Thứ trưởng Bộ Công Thương, Uỷ viên Ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Trưởng ban chỉ đạo Chương trình hành động của bộ Công Thương đã phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Hội nghị đã tập trung trí tuệ và khách quan thảo luận, đánh giá những kết quả đã đạt được trong năm 2011, chỉ ra những thành công cũng như tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, từ đó xác định các mục tiêu và các giải pháp để thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển dịch vụ trong năm 2012 và tạo đà phát triển cho các năm tiếp theo.
Với kết quả Hội nghị, Thay mặt Đoàn chủ tịch điều hành Hội nghị, đồng chí Phùng Đình Thực – Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn đã kết luận như sau:

Chủ tịch HĐTV PVN Phùng Đình Thực phát biểu tại Hội nghị.
Về kết quả thực hiện dịch vụ năm 2011Hội nghị đã khẳng định và ghi nhận: trong năm 2011, tuy kinh tế thế giới và Việt Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức song với sự quyết tâm và tập trung cao độ của cả hệ thống chính trị Tập đoàn; Các cấp uỷ Đảng, tập thể lãnh đạo các cấp trong Tập đoàn đã nghiêm túc quán triệt, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch trong việc lãnh đạo và triển khai thực hiện Kết luận số 33-KL/ĐU của ban chấp hành Đảng bộ Tập đoàn về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 233, phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của từng đơn vị. Kết quả, năm 2011, Tập đoàn đã hoàn thành toàn diện vượt mức tất cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ Chính phủ giao; trong đó, lĩnh vực dịch vụ dầu khí tiếp tục thu được nhiều kết quả quan trọng, cụ thể là:
Tập đoàn đạt mức kỷ lục về tổng doanh thu dịch vụ dầu khí (lần đầu tiên đạt mức trên 200 nghìn tỉ đồng), tiếp tục duy trì ở mức tăng trưởng cao (tăng trưởng 23,8% so với năm 2010) và đạt mức cao hơn so với mục tiêu Chiến lược đề ra (tỷ trọng doanh thu dịch vụ năm 2011 đạt 30,8% trên tổng doanh thu toàn tập đoàn so với mục tiêu chiến lược đề ra trong giai đoạn
🔒 Bấm Cảm ơn hoặc Trả lời để xem SĐT/Liên hệ là 25-30%), đây sẽ là tiền đề để Tập đoàn và các đơn vị trong Tập đoàn đạt được kết quả cao hơn nữa trong những năm tiếp theo.
Hầu hết các đơn vị dịch vụ đã có những bước phát triển mạnh mẽ, thực hiện hoàn thành vượt mức kế hoạch doanh thu, lợi nhuận năm 2011 trước thời hạn 1-3 tháng và đạt mức tăng trưởng cao so với năm 2010, điển hình là: Tổng công ty Cổ phần dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) có tốc độ tăng trưởng doanh thu 66,4% (tương đương tăng 1,66 lần so với năm 2010) và đạt tốc độ tăng lợi nhuận 110,7% (tương đương tăng 2,11 lần so với năm 2010); Liên doanh Việt Nga – Vietsovpetro (VSP) có tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ 51,3% và tốc độ tăng lợi nhuận dịch vụ 30,6% so với năm 2010; Tổng Công ty CP Khoan và dịch vụ khoan Dầu khí (PVDrilling) có tốc độ tăng trưởng doanh thu 19,9% và tốc độ tăng lợi nhuận 18,2% so với năm 2010; Công ty PVI Holdings (PVI) có tốc độ tăng trưởng doanh thu 22,6% và tốc độ tăng lợi nhuận 39,3% so với năm 2010…
Tập đoàn và các đơn vị trong Tập đoàn đã tập trung đầu tư các cơ sở vật chất kỹ thuật mạnh, thiết bị hiện đại, bao trùm nhiều lĩnh vực có giá trị tài sản đến hết năm 2011 đạt gần 140 nghìn tỉ đồng (tương đương 6,7 tỉ USD); xây dựng được đội ngũ lao động làm dịch vụ (35.000 người) có trình độ và chuyên môn cao, đủ khả năng làm tổng thầu thực hiện các công trình mà trước đây phải thuê nhà thầu nước ngoài hoặc nhà thầu ngoài ngành thực hiện. Điển hình là: Tập đoàn đã đầu tư và tự tổ chức vận hành, khai thác tàu địa chấn 2D–3D, giàn khoan tự nâng 90m nước, giàn TAD,…
Sự phối hợp, hỗ trợ cùng phát triển giữa các đơn vị trong Tập đoàn thông qua việc tăng cường sử dụng dịch vụ và thực hiện dịch vụ giữa các đơn vị đã có nhiều chuyển biến tích cực; các đơn vị của Tập đoàn đã làm chủ được một số lĩnh vực dịch vụ Dầu khí kỹ thuật cao như: VSP, PTSC, PVC – thực hiện dịch vụ xây dựng công trình biển; PVD – thực hiện dịch vụ Khoan và Dịch vụ khoan; PTSC – thực hiện dịch vụ Khảo sát địa chấn, tàu dịch vụ, tàu bảo vệ, kho/bãi, bảo dưỡng công trình biển …; PVI – thực hiện dịch vụ Bảo hiểm; EIC – thực hiện dịch vụ Giám định; VPI – thực hiện một số Dịch vụ phân tích, xử lý tài liệu; DMC/MI – thực hiện dịch vụ Dung dịch khoan, hoá phẩm…Việc chồng chéo một số loại hình dịch vụ trước đây đã được hạn chế; Thương hiệu các đơn vị dịch vụ trong ngành đã được khẳng định; Năng lực, tính chuyên nghiệp và chất lượng dịch vụ được nâng cao, có khả năng cạnh tranh tốt hơn và thực hiện được các dự án phức tạp, đòi hỏi công nghệ cao.
Dịch vụ phải thuê nước ngoài thực hiện trong năm qua giảm mạnh – tính chung cả năm 2011, Tập đoàn giảm sử dung dịch vụ từ nước ngoài là gần 2 tỉ USD so với năm 2010, đã tác động tích cực đến việc giảm ngoại tệ chảy ngược ra nước ngoài, góp phần quan trọng vào việc thực hiện Nghị quyết 01 của Chính phủ về cân đối ngoại tệ và giảm nhập siêu cho đất nước. Bên cạnh sự phối hợp, hỗ trợ giữa các đơn vị trong việc sử dụng và thực hiện dịch vụ của các đơn vị ở phạm vi trong nước, các đơn vị đã tích cực phối hợp triển khai công tác dịch vụ ra nước ngoài và bước đầu thu được một số kết quả.
Tập đoàn đã chủ động hơn trong việc thực hiện tiến độ các dự án đầu tư góp phần làm tăng giá trị sản xuất công nghiệp và chủ động trong việc triển khai các hoạt động đảm bảo chủ quyền quốc gia trên biển.Đặc biệt việc đầu tư tự tổ chức vận hành các tàu khảo sát địa chấn 2D, 3D trên thềm lục địa Việt Nam đã tạo chủ động cho Tập đoàn trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao và góp phần vào việc khẳng định chủ quyền Quốc gia trên biển, đây là công việc trước đây ta phải thuê các tàu nước ngoài dịch vụ.
Một số tồn tạiKết quả đạt được như trên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Tập đoàn trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn
🔒 Bấm Cảm ơn hoặc Trả lời để xem SĐT/Liên hệ; tuy nhiên, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận, kết quả đó chưa phản ánh đúng tiềm năng và thế mạnh hiện có của Tập đoàn; còn có những tồn tại, yếu kém cần khắc phục, thể hiện ở việc:
Còn hiện tượng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, ngành, nghề kinh doanh của một số đơn vị dẫn đến cạnh tranh nội bộ, gây khó khăn, lúng túng cho chủ đầu tư trong việc lựa chọn, giao thầu cho đơn vị trong ngành.
Sự phối hợp mang tính tự giác trong hỗ trợ cùng phát triển giữa các đơn vị còn hạn chế; có những đơn vị trong ngành có năng lực thực hiện công việc nhưng chủ đầu tư không thông tin mời tham dự nên đơn vị phải kiến nghị Tập đoàn hỗ trợ.
Năng lực cạnh tranh của một số đơn vị chưa cao. Nhiều đơn vị khi tham gia đấu thầu còn bị trượt thầu do không đáp ứng yêu cầu về năng lực, giá đấu thầu và kinh nghiệm; một số đơn vị khi được giao thầu còn đưa ra đơn giá gói thầu chưa hợp lý dẫn đến mất nhiều thời gian đàm phán, khi thực hiện công việc còn có nhiều đề nghị phát sinh, tăng giá…, ảnh hưởng tới tiến độ dự án.
Một số đơn vị chưa quán triệt đúng tinh thần Nghị Quyết 233, là hỗ trợ các đơn vị vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu, tạo điều kiện để các đơn vị đầu tư về trang thiết bị, con người…, tiến tới đủ sức thực hiện toàn bộ công tác dịch vụ cho các dự án. Một số đại diện của Tập đoàn tại các đơn vị chưa quan tâm đúng mức tới việc xây dựng qui chế/qui định về sử dụng và cung cấp dịch vụ của các đơn vị theo thứ tự ưu tiên như qui định của NQ 233, KL 70, KL 33, QĐ 4232, QĐ 5127 và các Chỉ thị, Công văn yêu cầu của Tập đoàn, đã gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện và thường xuyên phải có can thiệp của Tập đoàn vào quá trình thực hiện dịch vụ của đơn vị.
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ từ các doanh nghiệp nước ngoài còn lớn. Trong nhiều trường hợp, khi được Tập đoàn và các đơn vị trong ngành giao cho thực hiện dịch vụ, đơn vị giao lại nhiều phần việc cho các đối tác nước ngoài thực hiện nên cuối cùng mãi mãi tự mình không thể làm được và không đạt được mục tiêu phát triển đề ra.
Việc phát huy trách nhiệm ở một số Người đại diện Tập đoàn tại doanh nghiệp chưa cao, còn có hiện tượng dựa vào ý kiến của các cổ đông đối tác khác trong đơn vị để né tránh, thích sử dụng dịch vụ nước ngoài và chưa triệt để ủng hộ dịch vụ trong nước.
Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động dịch vụ ở nước ngoài thấp ,tiềm ẩn nguy cơ lâu dài nếu hoạt động dầu khí trong nước giảm (năm 2011 doanh thu từ hoạt động dịch vụ ở nước ngoài chỉ đạt được 4,5 nghìn tỉ đồng, chiếm 2% tổng doanh thu dịch vụ toàn Tập đoàn), chưa đạt được định hướng của Tập đoàn là tăng cường đầu tư phát triển dịch vụ dầu khí ra nước ngoài.
Hệ thống định mức, đơn giá cho công tác dịch vụ còn thiếu, điều này cũng làm ảnh hưởng đến công tác đấu thầu cũng như quản lý trong quá trình thực hiện dịch vụ.

Ký hợp đồng đóng mới giàn khoan Tam Đảo 05.
Đánh giá chung Kết quả đạt được trong công tác dịch vụ của Tập đoàn năm 2011, đã tiếp tục khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng ủy Tập đoàn trong việc ban hành Nghị quyết chuyên đề số 233, sự nắm bắt kịp thời chủ trương của Đảng và chính phủ, sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm và ý thức trách nhiệm cao của các cấp lãnh đạo trong Tập; Hiệu quả mang lại từ việc triển khai thực hiện Nghị quyết 233 trong năm 2011 và những năm qua đã góp phần quan trọng vào thành công chung của Tập đoàn trong việc thực hiện trách nhiệm là đầu tàu kinh tế của đất nước, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ; xong đó mới chỉ là kết quả bước đầu, chúng ta cần phải tiếp tục chung sức, chung lòng để khắc phục những mặt hạn chế tồn tại, tiếp tục thực hiện Nghị quyết trên một cách hiệu quả hơn trong năm 2012 và những năm tiếp theo để có nhiều đóng góp hơn nữa cho đất nước, xây dựng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phát triển mạnh và bền vững.
Về Kế hoạch triển khai công tác dịch vụ năm 2012Năm 2012, dự báo kinh tế thế giới sẽ diễn biến phức tạp; giá dầu mỏ và một số nguyên vật liệu cơ bản có xu hướng tăng không ổn định, những diễn biến chính trị của tình hình Trung Đông, Bắc Phi sẽ có tác động xấu đối với nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam và hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động đó; các hoạt động cung cấp dịch vụ của các đơn vị trong Tập đoàn cũng sẽ ngày càng khó khăn hơn.
Trong khi đó, Tập đoàn nhận thấy yêu cầu về mức độ phức tạp và tính chuyên nghiệp trong dịch vụ kỹ thuật dầu khí ngày càng cao; điều kiện tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí ngày càng khó khăn, phức tạp đặt ra nhiều thách thức, sẽ là một khó khăn không nhỏ trong việc cạnh tranh cung ứng dịch vụ của các đơn vị trong Tập đoàn; Vì vậy, đòi hỏi lĩnh vực dịch vụ dầu khí phải có bước phát triển mới.
Trong năm 2012 và các năm tiếp theo, xác định là năm:
“nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo kỹ thuật – tiến độ, hạ giá thành sản phẩm dịch vụ”.Mục tiêu: Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong toàn Tập đoàn để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương của Kết luận số 264-TB/TW ngày 31/7/2009 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Nghị quyết số 233/NQ-ĐU ngày 17/03/2009 của Ban chấp hành Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam về “phát huy nội lực, tăng cường và ưu tiên sử dụng các dịch vụ của các đơn vị thành viên trong Tập đoàn”. Tập trung nâng cao nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ; phát triển đội ngũ làm dịch vụ đạt chuẩn quốc tế; tăng cường đầu tư phương tiện, thiết bị; áp dụng công nghệ cao và hiện đại để giảm giá thành sản phẩm dịch vụ và đảm bảo tiến độ dự án. Phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng dịch vụ dầu khí năm 2012 đạt cao hơn so với năm 2011, tạo tiền đề đến năm 2015 doanh thu dịch vụ đạt 30-35% tổng doanh thu của toàn Tập đoàn
(cao hơn mục tiêu Chiến lược đã được Bộ Chính trị Kết luận và Thủ tướng Chính phủ Quyết định là 5%).
Giải pháp thực hiệnTập trung thực hiện đúng nội dụng, lộ trình tái cấu trúc các đơn vị dịch vụ theo đề án tái cấu trúc doanh nghiệp của Tập đoàn ngay sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Tập đoàn đã trình Thủ tướng Chính phủ ngày 28/3/2012, theo đó, xác định dịch vụ là một trong năm lĩnh vực cốt lõi của Tập đoàn gồm: Tìm kiếm thăm dò Khai thác dầu khí, công nghiệp khí, công nghiệp điện, công nghiệp chế biến dầu khí và dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao), đảm bảo mục tiêu:
Tái cấu trúc để tiếp tục phát triển Tập đoàn và các đơn vị trong Tập đoàn mạnh hơn; hoạt động hiệu quả, chuyên nghiệpvà phát triển bền vững;
Giảm thiểu tiến tới loại bỏ: cạnh tranh nội bộ, trùng lắp chức năng nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh giữa các Doanh nghiệp/Đơn vị trong Tập đoàn; thu gọn đầu mối quản lý để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả đầu tư và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Các đơn vị dịch vụ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư, qui hoạch cơ sở vật chất, thiết bị chuyên dụng, con người để nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các đơn vị trong Tập đoàn.
Yêu cầu các đơn vị cung cấp dịch vụ căn cứ loại hình dịch vụ, chức năng nhiệm vụ của đơn vị xây dựng kế hoạch với các giải pháp nhằm thực hiện bằng được mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, trên cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo tiến độ các dự án và hạ giá thành sản phẩm dịch vụ, bao gồm các nội dung: xác định loại hình dịch vụ, kế hoạch đầu tư phương tiện chuyên dụng, kế hoạch đào tạo và xây dựng đội ngũ chuyên gia chất lượng cao… Rà soát lại các quy định về cung cấp dịch vụ của Tập đoàn. Mở rộng hợp tác để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước cùng phát triển. Gắn kết chặt chẽ giữa các đơn vị trong Tập đoàn và trong nước trong việc cùng tạo ra hệ thống sản phẩm dịch vụ/hàng hoá chung.
Loại bỏ hẳn việc nhận thầu rồi giao lại cho doanh nghiệpkhác thực hiện. Kiên quyết không sử dụng dịch vụ nước ngoài đối với các dịch vụ mà các đơn vị trong Tập đoàn, trong nước thực hiện được. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển dịch vụ dầu khí ra nước ngoài, trước mắt là tập trung thực hiện dịch vụ đi liền với các dự án của Tập đoàn và các đơn vị thành viên của Tập đoàn đầu tư ở nước ngoài.
Các đơn vị sử dụng dịch vụ chủ động cung cấp thông tin nhu cầu sử dụng dịch vụ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ trong Tập đoàn; trước khi đấu thầu phải tổ chức khảo sát để có phương án phù hợp giao cho đơn vị có chức năng trong Tập đoàn thực hiện theo thứ tự ưu tiên qui định của Nghị quyết 233.
Các đơn vị có năng lực dịch vụ lớn trong Tập đoàn như PTSC, PVD, VSP, PVC… chủ động chủ trì phối hợp với các đơn vị dịch vụ khác trong Tập đoàn xây dựng phương án sử dụng hiệu quả các cơ sở vật chất sẵn có của từng đơn vị, hợp tác cung cấp, sử dụng dịch vụ trọn gói, nhằm tránh đầu tư chồng chéo, lãng phí và nâng cao hiệu quả đầu tư và dịch vụ trong nội bộ Tập đoàn.
Người đại diện của Tập đoàn và các đơn vị thành viên, trong các Công ty điều hành chung, các nhà thầu dầu khí, các liên doanh với nước ngoài có trách nhiệm giới thiệu, tổ chức và tạo điều kiện để các đơn vị thành viên của Tập đoàn tham gia thực hiện các dịch vụ cho các dự án.
Văn phòng đại diện của Tập đoàn tại các khu vực, các đơn vị có dự án đầu tư ở nước ngoài có trách nhiệm hỗ trợ các đơn vị dịch vụ xúc tiến dịch vụ của các đơn vị hoặc tổ hợp các đơn vị trong Tập đoàn ra nước ngoài. Các đơn vị dịch vụ cử đại diện xúc tiến phát triển thương mại và dịch vụ tại nước ngoài thông qua Văn phòng đại diện chung của Tập đoàn ở nước ngoài để được hỗ trợ về các thủ tục pháp lý, tiết kiệm chi phí, thuận lợi cho việc đảm bảo an ninh, ăn ở và đi lại.
Tổ chức thực hiệnTrên cơ sở Kết luận này, Tổng giám đốc Tập đoàn chỉ đạo xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện phù hợp với điều kiện của từng đơn vị.
Kết luận này được phổ biến đến tất cả các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng ủy Tập đoàn, các đơn vị thành viên và các Ban, Văn phòng Tập đoàn, tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh Tập đoàn để triển khai thực hiện.
PVN