Bằng viêc hỗ trợ thanh khoản, kiểm soát vốn và tái cấp vốn cho các ngân hàng, những tiêu cực do khủng hoảng nợ xấu gây nên sẽ được giảm thiểu, đồng thời giúp ngăn chặn nợ xấu gia tăng.
Nợ xấuđang là thuật ngữ được nhắc tới khá nhiều trên thị trường tài chính ngân hàng những tháng gần đây.
Theo báocáo của các tổ chức tín dụng về Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến 31/5/2012, tỷ lệ nợ xấu chiếm 4,47% tổng dư nợ, tức khoảng 117.000 tỷ đồng.Kết quả giám sát của Cơ quan thanh tra giám sát của NHNN trong khi đó cho thấytỷ lệ nợ xấu đến 31/3/2012 là 202.000 tỷ đồng, chiếm 8,6%.
Một báocáo khác của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia lại cho số liệu“vênh” khá nhiều, khi nợ xấu toàn hệ thống cuối năm 2011 đã lên tới hơn 300.000 tỷđồng, chiếm tỷ lệ 11,48% (chưa bao gồm nợ xấu của Ngân hàng Chính sách và Ngân hàng Phát triển). Còn theo các tổ chức tín nhiệm quốc tế, nợ xấu của Việt Nam cóthể lên đến 13%.
Tỷ trọngnợ xấu, theo báo cáo của UBGSTCQG, tập trung nhiều vào nhóm công ty tài chính,công ty cho thuê tài chính, với 27,6%, gấp hơn 2,6 lần con số báo cáo; của nhóm NHTMCP là gần14%, gấp 7,5 lần báo cáo, của nhóm ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoàilà 7,5%, gấp 4 lần báo cáo. Tỷ lệ nợ xấu của nhóm NHTMNN thấp nhưng nhóm nàylại có dư nợ cho vay nền kinh tế lớn nhất, nên con số nợ xấu cũng chiếm tỷtrọng lớn trong toàn hệ thống.
Tố độ tăng của nợ xấu ngày càng nhanh hơn trong thời giangần đây do vấn đề sở hữu chéo giữa các tổ chức phức tạp; tình trạng chovay tập trung vào nhóm khách hàng có liên quan; tăng trưởng kinh tế và tổng cầuchậm lại; đầu tư mạnh vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro như bất động sản,chứng khoán; tính minh bạch của các tổ chức tín dụng còn hạn chế và nhiều hànhvi che giấu nợ xấu; năng lực kiểm tra của cơ quan giám sát hạn chế…
Cần sốliệu nợ xấu thống nhất Nợ xấu vàphân loại nợ ở nước ta hiện nay đang được thực hiện theo Quyết định493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi rotín dụng trong hoạt động ngân hàng của các TCTD; và quyết định 18/2007/QĐ-NHNNsửa đổi bổ sung một số điều của quyết định 493.
Tuy nhiên,trong quy định của 2 quyết định này lại cho phép NHTM được thực hiện phân loạinợ theo 2 phương pháp là định lượng và định tính, bước đầu tiếp cận các thônglệ quốc tế về phân loại nợ. Quyết định này cũng không có quy định rõ và mangtính bắt buộc về thực hiện phân loại nợ theo đánh giá mức độ rủi ro của kháchhàng nên dẫn đến tình trạng tùy tiện phân loại nợ, khiến cho các con số khôngđược thống nhất giữa các cơ quan quản lý.
Tại buổitrả lời chất vấn trong phiên họp của Ủy ban TVQH hôm 21/8, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã khẳng định, sốliệu của NHNN là chuẩn nhất và NHNN cũng điều hành chính sách theo số liệu này.Dẫu vậy, theo các chuyên gia về tài chính ngân hàng, chừng nào khi chưa có số liệu về nợ xấu thống nhất thìchưa thể giải quyết nợ xấu. Có ýkiến cho rằng, NHNN cần đưa ra một tiêu chuẩn khắt khe hơn về phân loại nợ đểcó một kết quả chính xác và thống nhất giữa các cơ quan quản lý, từ đó mới giải quyết dứt điểm vấn đề.
Cần chặn ngay đà tăng của nợ xấu
Đã có nhiều giải pháp về giải quyết nợ xấu mà cácchuyên gia đã đưa ra, nhưng tựu chung lại có thể quy về 2 nhóm, đó là nhóm giảipháp mang tính chất ngắn hạn và nhóm mang tính dài hạn.
Giải quyết nợ xấu bằng giải pháp ngắn hạn sẽ giúpngăn chặn mức độ khủng hoảng của nợ xấu và áp lực gia tăng nợ xấu. Cụ thể là, bằngbiện pháp này, các ngân hàng sẽ tránh được ảnh hưởng tiêu cực của nợ xấu lên sựan toàn của hệ thống, tránh được khả năng xảy ra khủng hoảng niềm tin của kháchhàng và ngăn chặn việc khách đến rút tiền hàng loạt.
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới thì việcgiải quyết nợ xấu bằng biện pháp này sẽ gồm các giải pháp cụ thể:
Thứ nhất là Ngân hàng trungương hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu cao để bù đắplượng tiền bị rút ra. Thứ hai là sẽ kiểm soát vốn và gia hạn nợcho các tổ chức này nhằm thu hút dòng vốn bị chảy ra. Thứ ba là tái cấp vốn chongân hàng thông qua các khoản trái phiếu xử lý nợ xấu hoặc huy động từ nguồnkhác dưới sự bảo lãnh của Chính phủ. Và cuối cùng, bảo hiểm toàn bộ cho tiềngửi để tăng niềm tin trong hệ thống ngân hàng, tạo ra thời gian cần thiết choviệc tái cấu trúc hệ thống.
Đối với việc bảo hiểm tiền gửi toàn bộ, chính sách nàycó thể sẽ khiến chi phí khá cao, tuy nhiên nếu so với những tổn thất do hệthống ngân hàng sụp đổ thì lại hữu hiệu và ít tốn kém hơn nhiều.
Ở nhóm giải pháp dài hạn, một AMC được lập để giảiquyết nợ xấu đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước. Tuy nhiên, trong trường hợpở nước ta, nguồn kinh phí lấy ở đâu để giải quyết được khoản nợ hơn 200 nghìntỷ là cả một vấn đề và đến nay dường như vẫn chưa có lời giải.
Trong nhóm này, biện pháp gắn giải quyết nợ xấu với tái cấu trúc ngânhàng và tái cấu trúc kinh tế được đánh giá là giải pháp mang tính cơ bản, vìngoài vấn đề xử lý nợ xấu nó còn giúp ngăn chặn nợ xấu gia tăng.
Nhiều ý kiến cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, NHNN nên áp dụng cả hai nhóm giải pháp này một cách song song. Việc giải quyết nợ xấu cũng cần được giải quyết càng sớm càng tốt để tránh những hậu quả khó lường đối với nền kinh tế.
(Giải quyết nợ xấu - kỳ 2: Giải quyết nợ xấu không chỉ phục thuộc vào một bên)
Tiến Phương
Theo TTVN