kaspersky' post='16561' date='Apr 17 2009, 09:55 AM' viết:Thanks bác đã góp ý, như em đã nói chỉ dùng Hysis để hỗ trợ tính toán. Đối với từng trường hợp thì ta cần thiết lập bảng tính chi tiết để tính toán một cách chính xác.
Còn về vấn đề tạo lỏng trong quá trình đóng và khởi động khẩn cấp mong bác hướng dẫn thêm.
P/S: Trong ASME 31.8 có quy định về vận tốc đó bác, quy định tối đa là 100 ft/s. Còn trong API 14E có nói với vận tốc khí lớn hơn 60ft/s có thể có vấn đề về độ ồn, nhưng lớn hơn vẫn chấp nhận được với tuyến ống khi ta giảm độ ồn đến mức thấp nhất hoặc cô lập tiếng ồn.
Bạn thấy rõ trong ASME 31.8, vận tốc 100 ft/s là vận tốc ủa Piping của các thiết bị đo lưu lượng và áp suất do đó không phải là yếu tố để quyết định lựa chọn kích thước ống vì:
- Các FCV và PCV thường có đường kính piping nhỏ hơn piping của ống nên vận tốc qua đây lớn là chuyện rất bình thường. Do đó vận tốc dòng khí qua piping của PCV và FCV không biểu kiến cho vận tốc dòn khí của phần pipeline
- Có thể giảm hoặc tăng vận tốc qua đây bằng cách lắp nhiều Valve song song như cách dùng tại Dinh Cố terminal của BP mà vẫn đảm bảo được hai vấn đề vận tốc qua piping của FCV và PCV và đường kính ống
Còn về vấn đề vận tốc quy định trong API 14E thì thực chất quy định này là quy định cho piping chứ không phải pipeline, nên trong thực tế 1 số đường ống vẫn vận hành ở vận tốc khí khá cao do phần lớn đường ống được chôn dưới đất. Nhược điểm của giới hạn vận tốc trên là không quan tâm đến vấn đề Erosion, tuy trong API 14E cũng đề cập đến 1 vận tốc giới hạn cho mài mòn tính theo tỷ trong chung của khí và lỏng và hệ số C, do sự mơ hồ khi lựa chọn C như tùy vào điều kiện tạo cát (do bắn vỉa, đất đá trôi vào thành giếng, độ sạch của thiết bị vv...) nên người ta vẫn chỉ dùng công thức này mang tính chất tham khảo, để chính xác hóa thì từng công ty có từng cách tính riêng ví dụ như bên BP người ta xây dựng 1 mô hình dựa trên mô hình của Salama, bên Chevron cũng có 1 mô hình riêng.
Vấn đề tạo lỏng là vấn đề xảy ra khi điều kiện nhiệt độ hoặc áp suất rơi vào vùng 2 pha của khí. Ví dụ 1 trường hợp cho ống PM3- Cà Mau, nếu vì 1 lý do nào đó cả bờ và offshore cùng ngưng hoạt động lúc đó ESDV của cả 2 cùng đóng, áp suất trong ống sẽ cân bằng dần dần, vì áp suất offshore lớn hơn nên áp suất onshore cũng tăng theo, sau vài giờ thì áp suất phần offshore sẽ gần như bằng áp suất onshore nếu bỏ qua chênh lệch cao độ, áp suật tại ngay thượng nguồn của ESDV trong bờ nay được gọi là Settle Out Pressure. Khi bắt đầu có lệnh vận hành lại, nếu trong bờ mở Valve chênh lệch áp suất qua đây sẽ rất lớn nên hiệu ứng Joule Thompson là rất đáng kể làm nhiệt độ tụt xuống rất nhanh, nếu nhiệt độ rơi vào khoảng hydrocarbon dewpoint và water dewpoint thì chỉ tạo lỏng còn tệ hơn thì tạo hydrate, do áp lực cực lớn và các thiết bị hạ nguồn rất gần nên các cục hydrate này sẽ bay như đạn và mức độ phá hủy cơ khí là rất cao.